Tuesday, February 28, 2012

Nhớ Bóng Mai Xưa


1. Má tôi yêu nhất loài hoa mai. Yêu đến đỗi, má biến mảnh sân nhà thành vườn mai giữa phố. Má nói, Mai được xếp bậc thứ nhất trong “ tứ hữu” Mai – Lan – Cúc – Trúc. Bậc Thánh thơ ca Cao Bá Quát, người anh hùng chống chế độ phong kiến bạo tàn, bình sinh tâm đắc hai câu đối:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm,

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa…

(Mười năm bàn đạo giao du khó như tìm gươm cổ,

Một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai)

Má tôi bảo, ông này là người có lý tưởng sâu sắc, nhân cách sống cao thượng và chí khí quật cường. Cả cuộc đời, ông chỉ chịu cúi đầu khuất phục hoa mai. Chưa hết, má còn thi vị hoa mai bằng câu ca dao…

Bông mai vàng,

thuở nàng còn trẻ.

trên lối đi về,

Lắm kẻ đợi mong.

Bây giờ,

Tình đã sang sông.

Anh trèo cây khế,

Ngó mong đất trời.

Bớ em ơi!

Sao chẳng nói một lời…

Hiếm hoi lắm, má mới có chút thì giờ an nhiên như vậy. Công việc hàng ngày gần như nuốt chững má tôi. Bốn giờ khuya, má lẳng lặng ra đi khi các con chưa thức giấc. Nửa đêm má trở về nhà, các con say ngủ mất rồi. Sống chung nhà, mà ít khi tôi… gặp má. Vì vậy hôm nào má bệnh nằm nhà, tôi lẩn quẩn bên má hỏi han đủ chuyện. Nhưng vừa gượng dậy, má lại kéo tôi ra vườn chăm bẳm mấy gốc hoa mai:

- Chỉ cần một chậu mai ngày Tết, người ta đã có cả mùa xuân rồi. Nhà mình có cả vườn mai, con thích hôn?

Má càng “say” hoa mai, tôi càng tức tối nên hay phản đối:

- Con thấy bông thọ đẹp hơn!...

Má xoa đầu tôi, cười xòa:

- Bông tên thọ, nhưng bông không sống được lâu…

Tôi tự ái trẻ con, không bảy tỏ với má rằng tôi cần má. Tôi thích má quan tâm chỉ mỗi mình tôi. Tôi thèm kể kể má nghe, chuyện cô khen tôi làm luận văn giỏi. Hay chuyện thằng Tí xóm Chùa đạp xe lọc cọc đòi chở tôi về. Chà chà, bao nhiêu là chuyện con gái muốn kể má nghe. Vậy mà, má không quan tâm đến nỗi lòng con gái… Dần dà tôi đâm ra ghét hoa mai, ghét thậm tệ, ghét cực kỳ!... Lòng ghen tị khiến xui tôi hành động điên rồ. Rình rình cả nhà đi vắng, tôi lần lượt tạt… nước sôi luộc mấy gốc mai. “Thiên bất dung gian”, thiệt hỏng sai. Anh của tôi bất chợt về nhà, bắt quả tang tôi đang nghịch dại. Khỏi phải nói, tôi bị trận đòn đau quắn đít, nhưng bụng dạ tôi rất hả hê. Mùa xuân năm đó, mấy gốc mai bị tưới nước sôi… nụ đơm đầy đặc. Để sáng mùng một Tết, hoa nở vàng tươi rừng rực khắp sân nhà… Thiệt là, ông Trời hỏng chịu chiều lòng tôi tí tẹo nào…

Ông ngoại của tôi nhìn tướng đoán người không sai. Ba tôi quá đỗi hào hoa, nên ngay khi má sinh con đầu lòng, ba tôi có duyên tình mới. Ba vẫn về thăm nhà, vẫn đều đặn “gửi” má thêm mầm sống. Thế nhưng mười lần như một, từ lúc cưu mang đến khi sinh nở, má tôi chỉ có một mình. Con cái cả bầy, ba tôi chỉ nhớ tên đứa đầu tiên. Số đông còn lại, nhìn khuôn mặt giống đứa con đầu, ba tôi sẽ biết đứa đó con mình.

Chiều 30 tháng chạp hàng năm, cả nhà tôi đợi ba về cùng đón giao thừa. Sáng mùng một Tết, anh chị em tôi dậy sớm, quần áo tinh tươm… Đây là ngày duy nhất trong năm, gia đình tôi có đủ đầy quân số. Chúng tôi bắt chước ba má, nghiêm trang đốt nhang cúng bái tổ tiên. Lễ xong cả đám chen chúc xếp hàng, chờ ba phát phong bì lì xì màu đỏ, mà tối hôm qua má tôi xếp sẵn. Bữa cơm đoàn tụ năm mới qua nhanh, chúng tôi ì xèo gầy tụ đánh bài, không bị má la rầy chi hết. Má còn mang thức ăn, nước uống tiếp tế “cho mấy cha con có sức… ngồi sòng”. Má tất ba tất bật, nhưng khuôn mặt má rạng ngời khi nhìn cảnh cả nhà sum họp đông vui. Sang mùng hai Tết, khi chúng tôi còn say ngủ, thì ba tôi đã bỏ đi rồi.

Trong hoàn cảnh đó, má xoay trở đủ nghề nuôi con ăn học. Lúc con còn nhỏ, má đóng xe bán bánh mì gà ngay trước cổng. Khi chị của tôi có thể trông giữ các em, má tôi quyết định chuyển nghề buôn bán cây rừng. Lên rừng đủ thứ hiểm nguy, bệnh sốt rét rừng ai trải qua đều khiếp sợ. Kế đến, phải nộp thuế “hai đầu”: vô rừng mua cây phải “lo lót” cho VC, về thành bán cây thì “mãi lộ” kiểm lâm. Vẫn chưa hết, một phụ nữ nhan sắc như má tôi, rất vất vả đối phó với đám đàn ông xa vợ dài ngày. Má đã từng đành lòng bỏ những chuyến cây rừng quí hiếm, để giữ tròn đức hạnh của một phụ nữ Á đông. Trong giới làm ăn thuở đó, má tôi nổi tiếng khéo léo giỏi giang. Làm cái nghề mà ngay đến đàn ông còn kiêng dè, nhưng một tiểu thư “vóc hạc xương mai” như má tôi lại vô cùng thành đạt. Hồi đó tôi chưa biết ăn diện, nên vẫn là con ngoan của má. Chứ anh chị em tôi, bị má rầy hoài về tội tiêu hoang. Hàng tháng, má còn chu cấp tiền cho ba nuôi con của … vợ bé. Anh chị tôi bực tức cằn nhằn, má nhẹ nhàng giải thích:

- Người dưng má còn giúp được, huống chi tụi nó là con của… ba bây!

2. Mười tám tuổi, tôi đến nước Mỹ. Những tưởng, tôi chỉ tạm đi lánh nạn vài tuần. Nào ngờ thời cuộc đổi thay, tôi như cánh chim lạc mất đường về. Tự dưng sống không có má, tôi chơi vơi hụt hẫng tột cùng. Ở bên nhà, tôi đi học về có cơm canh dọn sẵn. Áo quần tôi mặc, có người giúp việc giặt ủi tinh tươm. Má hay cho tiền, và tôi mua sắm thoải mái những gì tôi thích.

Sang bên Mỹ, tôi đơn độc. Nhu cầu đời sống, tôi chỉ trông cậy vào đồng lương tháng ít oi. Ngôn ngữ Mỹ chưa thông, tôi đã lao đi tìm “job”. Quanh năm suốt tháng, tôi xoay tròn trong cái vòng lẩn quẩn “jobs và bills”. Ở nước Mỹ, tìm “job” và mất “job” đều… dễ ẹc. Và ai cũng nơm nớp nỗi lo thất nghiệp, vì thất nghiệp ở Mỹ thì sống cũng như… “chết mà biết thở” vậy thôi! Tôi trở thành nô lệ của chính mình trên đất khách. Tôi không có quyền ban phát thời gian cho tôi theo ý muốn chính mình. Ở xứ này, phải “ăn tốc hành, nói tốc độ, đi tốc … váy”, khó có chỗ cho “hồn thơ lai láng” chen chân.

Họa hoằn lắm, tôi mới gửi thư về quê thăm má. Biết má không vui và cũng chẳng cần, nhưng tôi chỉ biết gửi cho má những đồng dollars như phần nào chuộc lỗi. Má tôi là là một phụ nữ rất giỏi xoay sở, có bao giờ má cam chịu lâm cảnh túng thiếu đâu mà tôi lại gửi tiền? Tôi thương má, nhớ má nhiều lắm! Nhưng thời gian ngủ nghỉ lấy sức “đi cày” tôi còn chưa đủ, làm sao tôi có thể kể lể má nghe những chuyện tôi chắc má rất đau lòng? Mà thôi, má đừng biết chi nhiều về cuộc sống tha hương của con nghe má! Má không biết đâu, nhiều lúc con thèm có một buổi sáng thong dong trong vườn mai của má. Ở bên này, không có giống mai vàng mộc mạc má yêu thương. Những khi nhớ má, thì thật ngược đời, tôi lại khát khao được nâng niu một cánh mai vàng. Lúc ấy mà được ở bên nhà, tôi nhất định sẽ cùng má bón phân, tưới nước cho mai. Tôi sẽ lắng nghe má ngợi ca, về loài hoa từng làm đắm say tâm hồn của má. Rồi một ngày tôi nhận hung tin, má tôi qua đời sau cơn bạo bệnh. Tôi nghe chừng mặt đất sụp đổ ngay dưới chân mình. Thời gian đó, người Việt tha hương chưa được phép về lại quê hương. Tôi bật khóc tức tưởi, hệt đứa trẻ thơ uất ức đòi sữa mẹ…

Ngày cuối tuần, tôi đến chùa cầu siêu cho má. Tôi không thể tìm được một nhánh mai vàng. Quỳ bên chân Phật, tôi bồi hồi chiêm nghiệm về má, về hoa. Giờ đây tôi mới hiểu, tại sao má yêu thương loài hoa ấy. Là một phụ nữ nhân hậu, tâm hồn má đong đầy khát vọng yêu thương. Má vỗ về trái tim nhạy cảm của mình, bằng cách trải lòng nhân với mọi người. Nương tựa hồn mai, bởi tâm hồn má cô đơn quá! Một bầy con nhỏ, một gánh âu lo, một thân cò vạc… Má tôi kiên cường vượt qua số phận, không một lời trách phận than thân.

Phải đến mùa xuân thứ 28 ở Mỹ, tôi mới có được cành mai ngày Tết. Lần đầu đến xứ lạ, cánh mai gầy guộc mong manh. Bắt chước má, tôi chiết nhánh mai trồng ở sân nhà. Suốt mùa đông, mai âm thầm chịu đựng rét mướt. Để bước sang xuân, mai bất ngờ hóa thân mạnh mẽ, rực rỡ vàng tươi một cách diệu kỳ… Tôi giải thích với các con tôi: “Hoa là hiện thân của bà ngoại, một loài hoa thanh tao cao quí nhất đời…” Má đã dạy tôi một triết lý lớn ẩn trong hồn mai nhỏ, hoa cứ lặng lẽ cho đời trọn vẹn hương sắc lẫn niềm tin…

Ngày muộn, mẹ già hong tóc nắng,

Khác nào mây níu đỉnh Trường Sơn.

Mẹ ơi, giữ lấy vườn mai nhé!

Cho trải vàng xuân, đẹp bước con…

(trích thơ)

DIỆP HOÀNG MAI

Friday, January 20, 2012

Im Nghe Tình Thở


Không ai gọi người đàn bà gần 60 tuổi như tôi ra vườn xem bông hồng như thi sĩ người Pháp, Pierre de Ronsard gọi nàng Cassandre:
“ Mignonne,
Allons voir si la rose
Qui ce matin avoit desclose…”

Buổi sáng cuối tháng Chín. Một mình tôi săm soi thương tiếc những đoá hoa vừa nở bung những cánh cuối cùng cho đôi ba ngày hè còn sót lại với những chùm nắng lay lắt quanh đây. Tôi muốn ngồi im, ngồi thật lâu, thật tĩnh lặng trên tấm đá ở ngay lối vào nhà, nhắm mắt hít thở cái mùi thơm của cây cối đẫm chút sương đêm. Ngồi im hít thở cái mùi thơm của nắng.

Phải những người sống vùng Bắc Mỹ mới biết yêu nắng như thế nào. Phải những người ở vùng quanh năm mùa Đông mới biết chắt chiu những chùm nắng còn sót lại.

Ngồi im trong tĩnh lặng để chiêm ngắm sự vật là một trạng thái thật đơn giản nhưng tràn đầy cảm xúc khi nhớ về ai đó, về một kỷ niệm nào đó, về khoảng thời gian không cùng, về sự đổi thay rộng lớn của cuộc đời và của con người. Ngồi im trong tĩnh lặng sẽ dễ dàng để suy tưởng, hình ảnh, cảm giác đâu đâu lùa về - dâng lên nồng nàn, nóng ran trong lồng ngực. Ngồi im trong tĩnh lặng để đánh thức những hồi ức bằng tâm tình, bằng ý tưởng, bằng xúc động và cuối cùng nhìn thấy trong phút giây phiêu hốt - những bức tranh kỳ ảo nổi bật cả một đoạn đời dài, khêu dậy trong hồn mình những dấu vết thấp thoáng tàn phai của một thời đại. Khi tâm thức tĩnh lặng, người ta thấy vẻ đẹp ngay cả trong từng ngọn cỏ, một vẻ đẹp hiu hiu đưa người ta vượt thoát những lo toan thường nhật. Tôi muốn đánh thức những kỷ niệm giống như lời của một người nhạc sĩ … “Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc tình của mình. Hãy hát đi, đừng e ngại, dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi…”

Vậy thì kỷ niệm không là tình ư? Và những điều tôi suy nghĩ trong tĩnh lặng là những thầm thì để riêng mình nghe, với nụ cười hạnh phúc.

thụyvi
9 - 2012


Tuesday, December 27, 2011

LỜI CỦA LÁ MÙA ĐÔNG



Chiếc lá vàng trước khi rơi xuống đất

Kịp nói với em vài tiếng tạ từ

Thôi chào nhé vòm trời xanh bát ngát

Khung cửa hồng và cô bé mộng mơ.

Thưở mới là một nhỏ nhoi lộc biếc

Tôi đã mến em, cô bé tóc dài

Hay nhìn tôi bằng mắt xinh một mí

Và nụ cười răng khểnh ngó hay hay.

Tôi đã lớn lên cùng mưa nắng gió

Tươi tắn bốn mùa xuân, hạ, thu, đông

Đã cùng em vui bên khung cửa sổ

Đến hôm nay đã tới hạn lìa cành.

Lá vàng rơi là chuyện thường em nhỉ

Cũng giống như trăng lúc tận lúc rằm

Hãy nhặt lên và ép vào trang vở

Thật nồng nàn hương lá ngủ âm thầm.

HÀ THU THỦY

Chuyện Giáng Sinh, Chuyện Thường Ngày








Lễ Giáng Sinh thường được kể như một câu chuyện thần tiên. Và dĩ nhiên, cũng như mọi câu chuyện thần tiên, Lễ Giáng sinh dễ được thi vị hóa. Chúa Giêsu đã chào đời trong Ánh Sáng rực rỡ của Đêm Belem. Trong máng cỏ có súc vật quì thở mang lại hơi ấm. Trên không trung có tiếng đàn ca của các thiên sứ. Câu chuyện ấy lại càng trở nên huyền hoặc hơn với hình ảnh của Santa Claus hay ông Già Noel mỗi năm từ một xứ tuyết xa xôi nào đó ở Bắc Cực cỡi chiếc xe được kéo bởi một bầy sơn dương mang đến vô số quà tặng cho trẻ con và người lớn. Câu chuyện Giáng Sinh lại càng thơ mộng hơn với Cây Thông đầy tuyết và những ngôi sao lấp lánh mọc lên khắp nơi.

Khung cảnh mộng mơ và lãng mạn ấy dễ làm cho người ta quên đi cái thực tế rất là “đời thường” của Giáng Sinh. Hãy thử tưởng tượng nỗi lo lắng của cặp vợ chồng trẻ nghèo phải vất vả tìm một chỗ qua đêm ở chốn xa lạ mà chẳng được ai mở cửa đón tiếp. Hãy thử tưởng tượng cái cảnh dơ bẩn và hôi thối của một chuồng súc vật. Chính đó là nơi mà người vợ buộc lòng cho đứa con của mình chào đời! Chính trong khung cảnh đó mà một trẻ thơ được sinh ra và bầu khí ấm cúng của gia đình được thành hình. Khung cảnh ấy, dù sang giàu hay nghèo hèn, cũng đều giống nhau bởi vì đó là thực tế của cuộc sống.

Như vậy, câu chuyện Giáng Sinh thiết yếu cũng là câu chuyện hàng ngày trong cuộc sống con người. Có vất vả, sầu đau. Có lo lắng, vui mừng. Có chia cách, đoàn tụ.

Câu chuyện đoàn tụ của cặp vợ chồng già trong đêm Giáng Sinh là tiêu biểu của vô số những chia ly, cách trở, mong đợi, tìm kiếm và đoàn tụ trong cuộc sống con người. Như tấm khăn trải bàn của cụ bà, câu chuyện được dệt lên từ nhiều tình tiết vốn cũng là chuyện mỗi ngày: ngôi nhà thờ xuống cấp vì vắng người, nỗ lực hy sinh của vợ chồng vị mục sư trong những ngày chuẩn bị Lễ Giáng Sinh, phiên chợ từ thiện với trăm thứ lỉnh kỉnh được mang ra bán với hy vọng góp một tay vào việc giúp đỡ những người túng thiếu, một cụ bà lỡ chuyến xe buýt được mời vào bên trong nhà thờ để sưởi ấm, một cụ ông đơn chiếc được chở đi một vòng trong đêm Giáng Sinh...Cuộc hội ngộ bất ngờ và kỳ thú là đỉnh điểm và hội tụ của những chuyện “đời thường” ấy.

Chuyện Giáng sinh là chuyện thường ngày đã trở thành bất tử, cho nên bất cứ điều gì được nhìn trong Ánh Sáng của Giáng Sinh cũng trở thành bất tử. Chẳng có bài thánh ca nào đơn giản về âm nhạc lẫn ca từ cho bằng bài “Silent Night” (Đêm thánh vô cùng). Vậy mà bao lâu trên trái đất này còn có lễ Giáng Sinh thì chắc chắn mọi người trên thế giới, nếu không lắng nghe thì cũng cất hát lên bài thánh ca này. Riêng với người công giáo Việt nam thì, dù có lưu lạc ở đâu, bao lâu còn mừng lễ Giáng Sinh, ngay cả giữa mùa hè nóng chảy lửa như ở Úc đại lợi, bài thánh ca “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời” vẫn mãi mãi được hát lên. Giáng Sinh đã làm cho những cái đơn sơ nhứt trở thành bất tử.

Trọng tâm của Lễ Giáng Sinh là một “Trẻ Thơ”. Từ ngàn xưa, một vị ngôn sứ của dân tộc Israel đã loan báo “Một Trẻ Thơ đã được ban tặng cho chúng ta”. Đây cũng chính là điều được thiên sứ lập lại trong đêm Giáng Sinh: “Ta báo cho các ngươi một tin vui: một hài nhi đã chào đời”. Dù tin hay không, đã mừng Giáng Sinh thì ít nhứt cũng phải tin có một Em Bé đã chào đời. Em Bé ấy đã được ban tặng cho con người để, như lời dạy của chính Chúa Giêsu, con người cũng phải trở nên như em bé để được vào Nước Trời.

Trong văn hóa nào, trẻ thơ cũng luôn là biểu tượng của hồn nhiên, trong trắng, ngây thơ. Không có trẻ thơ, ai sẽ nhắc nhở chúng ta về sự hiện hữu của Ông Già Noel, của sự tử tế, tấm lòng quảng đại, vị tha và chia sẻ. Không có trẻ thơ, ai sẽ mở mắt chúng ta để không ngừng biết ngạc nhiên và ngây ngất trước những điều kỳ diệu của cuộc sống.

Mỗi năm, lễ Giáng Sinh trở về để đánh thức Em Bé trong mỗi người chúng ta. Với em bé ấy, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bước trong cuộc sống với đôi mắt lúc nào cũng mở lớn để chiêm ngưỡng những điều vĩ đại trong thực tế của cuộc sống mỗi ngày. Văn hào Pháp Marcel Proust đã từng nói “cuộc thám hiểm thật sự không phải là tìm kiếm những vùng đất mới, mà chính là có được đôi mắt mới.” (trích trong “The Power of Small” của Linda Kaplan và Robin Koval)

Mỗi ngày, tôi đã thử làm cuộc “thám hiểm” đó trong khu vườn nhỏ sau nhà tôi. Cố gắng nhìn thiên nhiên bằng “đôi mắt mới”, mỗi ngày tôi khám phá ra không biết bao nhiêu điều mới lạ. Tôi hiểu được tâm trạng hơi “bất thường”, nếu không nói là thật “trẻ con” của ông bạn tôi: chuẩn bị về hưu, ông khệ nệ “rước” một tổ ong về nuôi thử. Định nếu khấm khá sẽ nuôi thêm để có chút tiền đi du lịch. Những ngày đầu tiên, đã 9-10 giờ tối mà bạn tôi vẫn hăm hở đốt đèn lên, lò mò ra tổ ong để gọi là “chiêm ngắm” những điều kỳ thú trong xã hội loài ong.

Có những ngày, tôi cũng đã từng đứng hàng giờ như thế để ngắm cá bơi, ngắm bông hoa và cây trái trong vườn. Đọc sách có thể chán. Viết lách có thể cạn ý. Nhưng tôi có thể đứng “thừ người” trước thiên nhiên mà không thấy mỏi mệt.

“Đứa trẻ” trong tôi không những cho tôi những giây phút “ngất ngây” trước thiên nhiên, mà cũng mời gọi tôi luôn trong tư thế sẵn sàng để nhận ra bao điều kỳ diệu trong cuộc sống mỗi ngày, nhứt là trong những quan hệ và gặp gỡ với người khác. Cái lý trí hẹp hòi, dễ có thành kiến và thiển cận của tôi không thể nào hiểu được cái thế giới đầy bí ẩn của bất cứ người nào tôi gặp gỡ. Tôi chỉ có thể cố gắng đi vào đó bằng ánh mắt “chiêm ngắm” và nhứt là cảm thông và tha thứ.

Sinh ra trong một gia đình công giáo, tôi đã từng nghe nói đến ông Già Noel. Từ lúc nhỏ cho đến giờ, tôi chưa từng được ông Già Noel nào chiếu cố đến. Tôi cũng chưa bao giờ mơ hay mong được ông Già Noel đêm đêm lén bỏ quà vào chiếc vớ đặt ở cuối giường. Vả lại, suốt tuổi thơ, tôi chỉ biết đi chân đất thì làm gì có vớ để ông Già Noel cho quà vào đó. Vậy mà bây giờ, khi bắt đầu bước từng bước mỏi mệt xuống bên kia đồi của cuộc sống, tôi lại tin có ông Già Noel. Nhờ ông mà tôi luôn cố gắng để mở to đôi mắt trẻ thơ hầu nhận ra Ánh Sáng hy vọng, vui tươi và an bình trong cuộc sống “đời thường” mỗi ngày. Tôi thấy có lẽ ông già Noel là người hạnh phúc nhứt trên đời này, vì lẽ ông được nhìn thấy bao nhiêu giọt lệ sung sướng của người khác. Vì vậy, tôi cũng muốn “nhập vai” của ông mỗi khi có thể. Nhìn người khác vui vì một cử chỉ nhỏ của mình là một phần thưởng lớn nhứt cho tôi.

Có thể nói: “Một câu chuyện đời thường tuyệt diệu không nhứt thiết phải là một câu chuyện mới lạ, mà chính là câu chuyện tầm thường với một kết cục “có hậu”.

Không ai có thể viết nên câu chuyện đời cho người khác nhưng vẫn có thể góp phần đưa đến có một kết thúc “có hậu” tốt đẹp như những câu chuyện Giáng sinh.

Chu Thập

Monday, December 12, 2011

Cảm Tác













Cuộc đời như áng mây bay
V
ề nơi xứ lạ... tháng ngày buồn tênh...
M
ột mình trên đỉnh chênh vênh
MỘT THỜI ĐỂ NH
Ớ
... để quên ngậm ngùi...
LỊCH SỬ CÒN ĐÓ... ai ơi,
Âm thầm ghi chép, lưu đời về sau...
Còn mang chung một niềm đau
Làm sao xóa được nỗi sầu thời gian ???
Ôi, HAI MƯƠI NĂM MIỀN NAM...
Và bao năm nữa ngổn ngang nỗi buồn
Ôi quê hương!... ôi quê hương...!

THY LỆ TRANG
MASSACHUSETTS

Sunday, December 11, 2011

Nghiêng Tháng Mười Hai










Em về với tháng mười hai
Đôi tà hương lượn tóc cài Giáng Sinh
Hồn tôi thắp nến lung linh
Trái tim xưng những tội tình yêu em

Chuông xa xa vọng leng keng
Rung theo nhịp bước Nô En ông già
Tôi như đứa trẻ măng hoa
Lòng nao nức đợi món quà nửa đêm

Xin em mấy sợi tóc mềm
Kết chùm sao sáng giăng thềm cây thông
Trên cao thánh giá đứng trông
Câu kinh cầu nguyện tin mừng thế gian

Trót ăn trái cấm địa đàng
Tình tôi ngày tháng lang thang bên người
Em về tóc gió buông lơi
Lòng tôi dìu dặt những lời đồng ca

Trầm Vân


Hồn Thi Nhân








Những cánh cửa hé mở... Những dòng đời trôi theo một nhịp thiết tha, trôi theo mệnh nước, trôi theo phận người, trôi nổi bềnh bồng, chan chứa đam mê, đau khổ, và khát vọng trong ánh sáng chói lòa của tình yêu. Tình yêu, từ thuở hồng hoang, chỉ đơn thuần có hai màu trắng và đen.

Từ khi thi nhân tô màu hồng lên tình yêu, tình yêu bỗng bừng nở trên môi, trên má còn con gái, màu hồng phơn phớt của một loài hoa dễ thương, đẹp dịu dàng, đầy hương sắc, nhưng ẩn dấu không ít loài gai lửa... Tình yêu, dưới ngôn ngữ thơ, được nhà thơ nhân cách hóa với nàng thơ, với giai nhân, với hồng nhan tri kỷ, với chiếc áo dài, một cánh hoa, những nhan sắc thời danh...

Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa
(Phạm thiên Thư)

Núi ngủ lâu rồi em biết không
Tà áo em bay pha sắc hồng
(Thái Thụy Vy)

Có một lần nào đó, thi nhân phết lên tình yêu một màu xanh, tình yêu bỗng trở nên tươi mát, trẻ trung dầy sức sống của một thời xuân sắc, màu xanh của những dấu yêu, của hi vọng, đã đưa tình yêu vào cõi bất tận, vào dòng sông bất tử của tình sử...

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu thương
Anh pha mực cho vừa màu áo tím
(Nguyên Sa)

Xuân thu nhị kỳ, tình yêu, thêm một lần nữa, được thi nhân dệt áo lụa ngà, màu của những mùa hè e ấp vấn vương, màu đỏ của màu hoa thương nhớ len nhẹ tâm tư của thuở tình đầu, của yêu đương vụng dại. Tình yêu biến đổi theo mùa, bỗng rực lên với khát khao, với những thức thao...

Bãi cỏ mật ven đê, hoa cỏ may cào cấu
Gốc gạo già hoa đỏ, cánh diều bay
(Diễm Kim Loan)

Xin đừng hát nữa loài hoa đỏ
Một thuở xa rồi ngưng tiếng ve
(Thái Thụy Vy)

Màu vàng. Trời ơi ! "Thư em ướp nụ lan vàng. Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa" (Phạm thiên Thư). Thi nhân lại cặm cụi pha màu cho tình yêu rợp với cánh đồng hoa dại theo bén gót chân đi, màu vàng của yêu đương quấn quýt, quyện hương dan díu của hoàng lan bông chúa, màu vàng hoa thiên lý, lòai hoa ngây thơ, mới biết mộng mơ, màu vàng áo hoàng anh lộng nắng vẫy mời một hạnh phúc mong manh...

Giọt mưa xanh mấy tuổi nàng
Tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa
(Nguyễn tất Nhiên)

Mùa thu xẻ ngõ lầy vết xe thổ mộ
Hoa cúc mở toang những cánh cửa vàng
(Tô Thùy Yên)

Trên cánh đồng hoang hoa nở vàng
Loài hoa theo nắng, nắng lang thang
(Thái Thụy Vy)

Đến lúc những mộng mơ thay đổi cung điệu, tình yêu lại được thi nhân cho khoác lên gam độ sắc tím. Màu tím lãng mạn của những ngày ái ân hoang dại, tím nỗi thương niềm nhớ, tím phai phai gợn ráng chiều, tím những lượn sóng tình chết lịm trên bãi cát vàng vào một buổi hoàng hôn nào đó từ huyền kiếp. Tím loài lan dại đến từ khói sương, tím một loài hoa trôi nổi, nổi trôi, một đời du mục không bến không bờ, tím phù du của các loài hoa dại trên cánh đồng hoang, và tím bằng một màu áo đơm bằng những năm tháng thiết tha, tha thiết...

Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa thao thức gọi nửa im lặng chờ
(Phạm Thiên Thư)

Em pha giọt nắng vào ly
Mùa thu chậm bước chân đi cuối trời
Lửa phong thắp sáng cõi đời
Lá thay áo tím xuống đồi ngủ yên
(Thái Thụy Vy)

Theo vòng sinh hóa của trời đất, với sự chuyển hóa của hai vầng nhật nguyệt và các vì tinh đẩu, tình yêu, với tất cả màu sắc kết hợp lại trên kính quang phổ, trên cầu vồng, vẫn là tinh túy của màu trắng bất tử, màu trắng của tuổi học trò, áo cưới và áo tang...

Từ hôm em bỏ theo chồng
Áo trắng em cất áo hồng em mang
Chiều nay dở lại bàng hoàng
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh
(Phạm Thiên Thư)

Thảm cỏ mùa này trải thảm hoa
Hai cánh tay em trắng ngọc ngà
Nâng từng cánh trắng vương màu nắng
Run rẩy gió về, nắng kiêu sa
(Thái Thụy Vy)

Theo nhịp cuối cùng của vòng sinh hóa, màu trắng của tình yêu rồi có một ngày phải nhường lại cho màu đen vĩnh cửu...

Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không ?
(Bùi Giáng)

Theo nhịp mỗi chu kỳ của dòng đời, những thanh, sắc, hương của một đời con gái, thì thi nhân còn giữ lại được những gì ? Khi tình yêu, nếu không gãy đổ nửa đường, hay vào đoạn cuối của cuộc đời ?

Đó là vấn nạn muôn đời để đời người và người đời ưu tư và suy ngẫm.

Cát bụi lại trở về với cát bụi, thi nhân là những người mượn lời thơ để lại những ánh sáng lung linh của tình yêu tan vỡ sau khi các vì tinh tú đã tắt, và chỉ còn có mình thi nhân làm bất tử tiếng sóng gào sau khi biển đã chết lặng theo cuộc tình...

Qua hồn thi nhân, chúng ta sẽ còn nghe mãi tiếng rơi cô đọng của giọt sương khi ánh hồng bao lần ló dạng và bao lần lặn mất tăm vào cõi u minh. Nhờ còn hồn thi nhân mà chúng ta còn nghe tiếng lục bình trôi khi sóng nước phù sa cuốn trôi loài hoa tím lang thang du mục vào biển cả...

Còn có hồn thi nhân, chúng ta còn nghe được chiếc lá thu lìa cuống xào xạc trên thềm hoang. Nhờ hồn thi nhân chúng ta còn nghe được dòng sữa trên gân lá vẫn rạo rực chảy khi chiếc lá đã nằm trên nấm mồ xanh cỏ, mặt lá vẫn bừng lên nhiễm sắc tố được ánh mặt trời gửi gấm. Và nhờ có thi nhân, chúng ta còn nghe được tiếng thở dài của gió luồn qua kẽ tóc của người yêu dấu khi những áng mây dĩ vãng dấu yêu đã trôi xa, thật xa...

Nhờ có hồn thi nhân viết lên các vần thơ mà "người đời mai đây có thể bỏ chúng, nhưng chúng không khi nào bỏ người đời".

Hỡi thi nhân, những con linh điểu trọc đầu, ngày đêm tha đá lấp sầu đại dương, tìm cách "hàn gắn cái Muôn Nơi Muôn Thuở, luôn luôn dang dở" trong tình yêu, để nhân loại "cảm nhiễm những nét đẹp thâm trầm ẩn dấu trong cuộc sống, cảm nhiễm cái sầu muộn mông mênh, những cái đẹp không phai trong văn chương". Nói theo nhà phê bình Joseph Huỳnh Văn:"Những lời thơ là chốn đi về của hồn thiên cổ...đã thiên cổ và mãi mãi thiên cổ".

Arlington,VA.1994

Thái Thụy Vy