Sunday, July 24, 2011

Niềm Vui Tương Ngộ











Hội ngộ Ngô Quyền vui biết bao!

Cùng nhau nhắc nhớ chuyện năm nào...

Châu, Hồng, Hoa, Hạnh duyên tương ngộ

Bốn thập niên dài gặp lại nhau.

Mừng mừng tủi tủi, vòng tay ấm

Nói nói cười cười, dạ xuyến xao.

Rưng rưng giọt lệ giờ tạm biệt

Chia tay, hẹn tái ngộ lần sau...

Hát Bình Phương

Nhừng Dòng Lưu Bút Ngày Xanh












Quê tôi ở Cù Lao Phố, một địa danh của xứ bưởi Biên Hòa. Sau khi học hết bậc tiểu học ở ngôi trường làng Hiệp Hòa, tôi dự kỳ thi tuyển vào đệ thất của trường Ngô Quyền và may mắn được trúng tuyển vào lớp đệ Thất 1 niên khóa 1964 -1965. Tôi vẫn còn nhớ như in ngày đầu tiên nhập học được Ba chở đến trường trên chiếc xe Vespa cũ kỹ. Ba chạy chậm và chỉ tôi cách đón xe Lam để bắt đầu ngày mai tự đi học một mình vì Ba phải trở về Saigon để đi làm. Lần đầu tiên mặc chiếc áo dài vải trắng, quần satin đen bóng, đầu đội nón lá, chân mang guốc, hai tà áo dài tha thướt, tôi nghe trong lòng một niềm vui và hãnh diện thật khó tả! Đó cũng là ngày đầu tiên của thời nữ sinh trung học đầy thơ mộng.

Trong số các bạn nữ sinh cùng chọn sinh ngữ Pháp văn ở lớp đệ Thất 1 có vài bạn cùng học chung bậc tiểu học nên tôi cảm thấy đỡ đơn độc. Một số bạn từ Chợ Đồn,Tân Vạn, Bửu Long, Phúc Hải, Hố Nai, Tam Hiệp... cũng được học ở đây. Đa số các bạn trong lớp là người ở ngay thành phố Biên Hòa nên đi học vừa gần nhà lại không bỡ ngỡ như chúng tôi từ làng quê ra tỉnh. Nhờ có bản đồ lớp và tuổi trẻ dễ thân thiện nên chúng tôi sớm biết mặt biết tên trong một thời gian ngắn. Theo tháng năm, chúng tôi lần lượt bước qua lớp đệ Lục 1, Ngũ 1 rồi đến Tứ 1, lớp cuối cùng của bậc trung học đệ nhất cấp.

Mùa hè năm 1968, sau Tết Mậu Thân, tình hình đất nước có nhiều chuyển biến và thay đổi. Đó cũng là năm cuối ngồi chung lớp suốt bốn năm dài vì sang năm tới sẽ học theo phân ban A, B, C tùy môn học được lựa chọn nên có thể phân tán ra nhiều lớp khác nhau. Thêm nữa, một số bạn vì hoàn cảnh gia đình, phải nghỉ học ở nhà không còn tiếp tục đến trường. Thế là không ai bảo ai, một số bạn tự làm quyển Lưu Bút Lưu Ảnh cho riêng mình để làm kỷ niệm của thời học sinh đầy hoa mộng, tôi cũng thực hiện một quyển Lưu Bút như vậy. Nhờ đó mà đến hôm nay, sau hơn 40 năm dài, tôi vẫn còn trong tay quyển Lưu Bút ghi lại kỷ niệm của những ngày xa xưa ấy. Quyển Lưu Bút thân thương đã theo tôi từ Biên Hòa về Saigon rồi từ Việt Nam sang Mỹ để nhắc nhớ bao kỷ niệm của những ngày xưa thân ái cũ…

Quyển Lưu Bút Ngày Xanh của tôi bây giờ đã cũ, màu giấy trắng năm xưa chuyển sang vàng nhạt, nét mực tím, mực xanh cũng đã phai màu. Những tấm ảnh trắng đen không còn sắc nét mà cũng nhạt phai theo năm tháng. Nhìn những hình ảnh thơ ngây, những nét chữ thân thương mà bạn tôi ngày ấy đã nắn nót viết để dành tặng riêng tôi, lòng tôi bồi hồi xúc động, tôi mơ màng thấy mình trở về với lớp học năm xưa và ngôi trường cũ… Hình ảnh và nét chữ còn đây mà bạn bè tôi đã trôi giạt ở nơi nào? Thôi thì xin ghi lại những dòng lưu bút của các bạn đã viết cho tôi với những lời lẽ mộc mạc đơn sơ nhưng đầy chân tình của những nữ sinh đang ở tuổi mộng mơ của một thời áo trắng.

Trần Thị Dung, cô bạn có khuôn mặt tròn trĩnh, viết văn hay: “Kỷ niệm là cuốn phim dĩ vãng của từng khuôn mặt đó, từng lời nói đó. Sống là phải chấp nhận sự chia ly, dang dở để buồn tiếc và nhớ thương hay gì chăng nữa thì kiếp học trò đâu ở mãi trong mình…”

Lê Thị Tiết, cô bạn học chung bậc tiểu học trường làng: “Rồi một ngày kia, một ngày không xa lắm, mình sẽ xa nhau và chừng ấy tất cả những kỷ niệm lại hiện về đủ đầy trong ký ức và nó sẽ làm cho mình nhớ tiếc, thèm thuồng vì kỷ niệm bao giờ cũng đẹp…”

Trần Thị Hiếu, cô bé nghiêm nghị, ít nói và hay mắc cỡ: “Kỷ niệm phải chăng là tiếng vang của tâm hồn, là dư âm ngày cũ, nơi đó hội họp đầy đủ những người thân yêu, những gì đáng ghi nhớ, vui buồn lẫn lộn nhưng nó không ở mãi với thời gian mà sẽ dần phai theo năm tháng…”

Trần Thị Thúy Nga, cô bạn lớp trưởng, lúc nào cũng cười: “Biết viết gì đây, nói gì đây, chỉ có tình bạn chân thật là quý và lưu lại cho nhau những gì mà mình gọi là kỷ niệm…”

Trần Thị Lan, cô bạn ngồi cạnh năm đệ Thất, ít nói nhưng rất dễ thương: “Lan chỉ có những dòng chữ viết vào đây để nói lên tình bạn chân thành của chúng ta vì ngày mai đây khi chia tay nhau, mỗi người mỗi nơi, biết có còn gặp nhau nữa hay không?...”

Nguyễn Mỹ Châu, cô bạn ngồi cạnh năm đệ Tứ, thân hình mảnh mai và rất vui vẻ, cởi mở: “Chúng ta đã cùng học tập bên nhau qua bốn năm dài đăng đẳng. Tuy thế đối với chúng ta thật là ngắn ngủi vì ngày nay…ngày mai…biết chúng ta có còn trọn vẹn bám ghế nhà trường không hay là hoàn cảnh, cuộc sống, chiến tranh…sẽ lôi chúng ta ra khỏi cái khung cảnh êm đềm và đẹp nhất của thời học sinh…”

Lê Thị Hạnh, cô bé học rất chăm chỉ và giỏi toán: “Không phải chỉ riêng đời học sinh chúng ta mà cả những gì trên cõi đời nầy đều phải chấp nhận một sự chia ly để rồi gieo vào lòng người một nỗi tiếc thương…hay là gì chăng nữa thì chúng ta vẫn phải cam chịu vì cuộc đời vẫn còn thay đổi thì không có gì là ở mãi bên ta…”

Nguyễn Thị Út, cô bạn có nhiều ý tưởng hay và nét chữ rất bay bướm: “Ngày mai đây chúng ta sẽ xa nhau, mỗi đứa đi mỗi ngả theo chiều hướng đắng cay hơn thỏa thích của cuộc đời. Dù biết rằng đời lắm chông gai đau khổ, chúng ta vẫn bám víu dùi đầu trong sự cạnh tranh để sống và để là một con người đáng sống…”

Mai Thị Kim Hoa, cô bé lanh nhất lớp và luôn nở nụ cười trên môi: “Mình bỗng dưng có ý nghĩ là níu thời gian dừng lại để chúng mình đừng bao giờ chia cách, để những gương mặt học trò còn đượm nét thơ ngây, không bận vướng những ưu tư trong đời sống…”

Võ Thị Liên Hoa, cô bé tóc dài cũng là ca sĩ của lớp, hát rất hay: “ Ước mong Hạnh sẽ giữ mãi những hình ảnh, những kỷ niệm của tuổi học trò thần tiên hôm nay…”

Nguyễn Thị Tuyết Mai, cô bạn lúc nào cũng trông chững chạc như người lớn: “Bốn năm dài buồn vui đầy trang giấy, thế mà hôm nay, cầm trong tay quyển Lưu Bút nầy Mai không biết phải viết lên đây những gì để diễn tả cái tâm trang hiện tại của Mai. Sau nầy nếu có dịp lật đến trang giấy nầy, nhìn giòng chữ nầy Hạnh có nhớ đến người bạn cùng học chung suốt bốn năm dài không?...”

Đinh Thị Huệ, cô bé có đôi má lúc nào cũng ửng hồng duyên dáng: “Mình và Hạnh chỉ còn gần nhau từ bây giờ đến hè mà thôi. Sang năm học tới Hạnh đi ban B còn mình đi ban A, không còn ngồi chung lớp như từ trước đến giờ, buồn ghê Hạnh nhỉ?...”

Lê Diệp Liễu, cô bé dáng thấp và khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương: “Nếu có xa nhau mà vẫn nhớ trong những nỗi buồn da diết thì những niềm thương còn lưu lại tận đáy lòng dù rằng hình ảnh đã nhòa trong ánh mắt…”

Vi Thị Bé, cô bạn ở Phúc Hải, có lối kể chuyện dí dỏm rất vui: “Chỉ còn đôi mươi ngày nữa là chúng ta xa nhau ba tháng hè dài đăng đẳng, ba tháng mái trường chìm trong im lặng, vắng vẻ bên những xác phượng tàn rơi và tiếng ve sầu não ruột. Không biết chúng ta có còn gặp nhau trên con đường học vấn nữa không hay là vì hoàn cảnh, cuộc sống hiện tại đầy chiến tranh khói lửa nầy, biết đâu nó sẽ gián đọan sự học hành của chúng ta, để rồi phải chập chững bước vào đời đầy cạm bẫy bằng đôi tay bé nhỏ…”

Nguyễn Thị Thu Cúc, cô bé biết làm thơ học trò: “Dù cho giông bão gió mưa. Cũng đừng quên bỏ bạn xưa năm nào. Đừng quên người bạn cố giao. Đã từng một thuở tranh nhau học hành...”

Lê Ngọc Mai, cô bé hay ngồi suy tư một mình: “Trời đã vào hạ từ lâu, nắng rực rỡ trên cây phượng mang đầy lá xanh nõn nà, hình như vòm trời cũng thay đổi với những đám mây trắng bồng bềnh. Tất cả đều thay đổi khi mùa hạ sang. Đó là hình ảnh quen thuộc của chúng ta với tuổi học trò đầy vô tư…”

Nguyễn Hưng Loan, cô bạn có vẻ trưởng thành và chính chắn nhất của lớp: “Trong một phút suy tư, hình ảnh của bốn năm về trước lại hiện đến. Thuở ấy , lần đầu tiên gặp nhau, chúng ta bỡ ngỡ vô cùng và ngơ ngác như những con chim lạc bầy, chỉ biết đưa mắt tìm kiếm những đứa bạn quen hầu đánh tan những nỗi lo sợ vô cớ của mình…”

Trần Thị Ngọc Yến, cô bạn vui vẻ và lúc nào cũng cười: “Nếu chúng ta có xa nhau thì Yến xin lưu lại những dòng lưu niệm nầy, tuy nó vô tri nhưng sẽ an ủi Hạnh phần nào trong những lúc buồn chán…”

Nguyễn Thị Huỳnh Hoa, cô bạn cao to mà nhỏ tuổi nhất, chữ viết rất đẹp: “Thấm thoát một năm qua mau, hồi nào mới bỡ ngỡ bước chân vào lớp, nay đã đến cuối năm, phượng đã nở, chúng ta lại sắp chia tay. Năm tới chúng ta sẽ không gặp mặt nhau đầy đủ như hiện tại. Một năm học ngắn ngủi nhưng cũng mang nhiều kỷ niệm khó quên…”

Lê Thị Kim Loan, cô bạn xứ Phan Thiết với mái tóc dài chấm ngang lưng: “ Trước lúc chia tay tạm biệt nhau, Loan mong rằng chúng ta sẽ còn gặp lại nhau trong năm học tới và sẽ dệt thêm nhiều kỷ niệm của đời học sinh đầy hoa mộng…”

Trần Thị Lan, cô bạn vui tính với nhiều câu chuyện vui thật hay: “ Gần gũi học tập suốt bốn niên học qua và chúng ta thân nhau nhất ở năm đệ Tứ nầy với nhiều kỷ niệm giữa Lan và Hạnh. Mong rằng những kỷ niệm ấy sẽ không bao giờ nhạt phai…”

Trần Thị Nguyên, cô bé hay cười và nhanh nhẩu của lớp: “Được Hạnh trao quyển Lưu Bút, mình rất vui nhưng lại thoáng buồn vì chúng ta sắp xa nhau mỗi năm khi hoa phượng nở trước sân trường báo hiệu mùa hè đến…”

Lê Thị Ngọc Châu, cô bạn rất hiền và ít nói, hay cười: “ Châu rất sung sướng khi được Hạnh trao quyển Lưu Bút nầy nhưng vì thời gian quá ngắn nên Châu không biết viết gì hơn là chúc Hạnh luôn vui vẻ và tiến mãi trên con đường học vấn…”

Mai Phương Mai, cô bạn đeo kính cận, học rất giỏi: “Mùa hè vẫn đến dù chúng ta không mong muốn. Cứ nghĩ đến những gì nối tiếp về sau khi buổi họp mặt cuối năm học đã tàn, khi những khuôn mặt tìm về với nhau hay những ánh mắt lẫn trốn để che giấu nỗi buồn thấm thía, Mai thấy nao nao trong lòng vì thời gian cứ cướp dần những ngày thân ái thơ dại của chúng ta để còn lại là niềm nhớ tiếc khôn nguôi…”

Ngô Thị Ngọc Hương, cô bạn thân nhất cùng chung bậc tiểu học ở trường làng: “Sau bao giây phút suy tư và đối diện vào trang giấy trắng tinh anh vẫn không sao nén được nỗi buồn ray rứt đang len lén đi nhẹ vào tâm hồn mình. Nhớ lại bao nhiêu là kỷ niệm vui buồn chia sớt cho nhau trong những ngày xa xưa thân ái trên con đường làng đầy quen thuộc dẫn đến trường mà hai đứa mình ngày hai lượt đều đi qua đó…”

Còn một vài bạn khác mà tôi vẫn còn nhớ tên: Hà Ngọc Lệ, Phạm Thị Thanh Thu, Huỳnh Thị Gấm, Nguyễn Thị Hưng, Trần Bích Liên, Lê Thị Lành, Huỳnh Lệ Chất…sao không thấy viết trong quyển lưu bút nầy? Hay là đã đến ngày cuối cùng của năm học nên tôi không đưa kịp đến các bạn ấy chăng? Dù thế nào đi nữa thì tên và hình ảnh của các bạn ngày ấy đã đi sâu vào ký ức tôi để tái hiện mỗi lần nhớ đến.

Những dòng lưu bút nầy được trích từ những trang Lưu Bút Ngày Xanh, có bạn viết 1, 2 trang giấy, có bạn viết 3, 4 trang giấy với đầy ắp những tâm tình mà giờ đây xem lại tôi thấy như mình đang cùng với các bạn ngồi học trong lớp hay vui đùa bên nhau ở sân trường. Mơ màng trong tâm trí tôi những tà áo dài trắng thướt tha bay trong gió như một đàn chim và trước mặt là bầu trời cao xanh rộng mở…

Bên cạnh đó tôi còn thấy thấp thoáng hình ảnh của các Thầy Cô kính mến, hàng ngày truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức, hướng dẫn chúng tôi thành những con người đầy đủ trí đức cho cuộc sống tương lai. Sau nầy khi bước chân vào đời, qua những thăng trầm trong cuộc sống, tôi mới cảm nhận được công ơn của Thầy Cô, đã ban tặng cho chúng tôi những kiến thức hữu ích làm hành trang vào đời. Xin trân trọng gửi đến Thầy Cô lòng biết ơn sâu xa của chúng em, những học trò cũ dưới mái trường Ngô Quyền dấu yêu.

Đó là những dòng lưu bút của các bạn viết cho tôi hơn 40 năm về trước và chính tôi cũng đã viết đáp lại cho các bạn, có khi còn tặng kèm theo một tấm ảnh để bạn mình giữ làm kỷ niệm. Ước gì tôi được xem lại những dòng chữ năm xưa của mình trong quyển lưu bút nào đó mà bạn tôi còn giữ. Mong lắm thay!

Giờ đây các bạn của tôi mỗi người mỗi ngả của cuộc đời. Chắc hẳn có bạn đang sống trong cảnh giàu sang, gia đình yên ấm hạnh phúc và biết đâu cũng có bạn chịu một nỗi bất hạnh nào đó! Cầu mong cho tất cả chúng ta dù giàu hay nghèo, dù đang ở quê hương hay tản mác bốn phương trời, cũng có được một mái ấm gia đình để yêu thương và nương tựa trong tuổi hoàng hôn.

Ngày nay, với phương tiện thông tin hiện đại của thế kỷ 21, biết đâu các bạn sẽ đọc được bài viết nầy, nhớ lại năm xưa mình đã từng viết những lời lẽ như thế đó, dù đơn sơ nhưng chứa chan tình bạn. Và cũng biết đâu chúng ta liên lạc được hay có duyên hội ngộ mà gặp lại nhau sau mấy mươi năm dài dâu bể, người còn ở chốn quê nhà, kẻ sống tha phương nơi đất khách.

Tiếc thay tôi không còn giữ tấm hình nào có đủ mặt các bạn Tứ 1 chụp chung trước cồng trường Ngô Quyền làm kỷ niệm để có dịp nào đó chúng ta nhìn lại những khuôn mặt ngày xưa mà hồi tưởng lại đã có một thời cùng ngồi chung lớp, chung trường trong một khoảng đời học sinh hoa bướm đầy thơ mộng...Tôi có mấy dòng thơ tặng các cựu học sinh trường Ngô Quyền cùng tâm trạng tiếc nuối thời còn cắp sách dưới mái trường Ngô Quyền thân yêu và riêng tặng các bạn Tứ 1 của những ngày xa xưa thân ái để nhớ về một thời áo trắng.

Một Thời Áo Trắng

Nhớ quá đi thôi thời nữ sinh

Thấp thoáng đâu đây những ảnh hình

Thầy Cô, bạn hữu, ngôi trường cũ

Thân thương, nồng ấm biết bao tình.

Ra trường mỗi đứa một phương trời

Đàn chim tung cánh khắp muôn nơi

Tuổi trẻ, niềm tin, nhiều mơ ước

Cánh cửa tương lai mở rộng mời.

Lưu bút ngày xanh lật từng trang

Nét chữ thân quen dệt thành hàng

Kỷ niệm ngày xưa đầy lưu luyến

Một thời áo trắng nhớ mênh mang.

Bạn cũ giờ đây khắp muôn phương

Theo dấu thời gian tóc điểm sương

Ước gì gặp lại ôn chuyện cũ

Chia sẻ tâm tình còn vấn vương...

Hát Bình Phương


Như Một Lời Chia Tay










Trong lúc tour cruise Canival bắt đẩu khởi hành chiều thứ sáu 8 tháng 7 tại cảng Long Beach, ban tổ chức đã chuẩn bị buổi tiệc cùng thời gian “Như Một Lời Chia Tay” thay lời nhắn nhủ hẹn ngày gặp lại đến tất cả quý Thầy Cô và các cựu học sinh về tham dự chương trình Đại gia đình Ngô Quyền Hội Ngộ Toàn Thế Giới lần 2.

Buổi tiệc chia tay được tổ chức tại nhà của hai cháu Phương Thảo, là con trai và con gái 2 gia đình thông gia của đại gia đình Ngô Quyền anh Ma Thành Tâm và anh Tô Anh Tuấn. Châu, một người bạn trẻ đến thật sớm từ San Diego đã cùng tôi và anh Hòa chuẩn bị bàn ghế cho buổi tiệc, Châu học khóa 13 NQ đã tham dự ngày hội ngộ ngày chúa nhựt, Châu chỉ quen biết Nguyễn Trần Diệu Hương, hôm nay Châu đến đây hy vọng tạo một nhịp cầu giữa khóa đàn anh, đàn em trong đại gia đình Ngô Quyền. Những tiếng phone reng với tiếng nói thân quen và gần gủi sau 3 ngày đi tour Las Vegas, với những tâm tình của người bạn, người em từ Ohio, Tenessy v.v… Thầy cô Trần Phiên, thầy Phan Thanh Hoài, Thầy Nguyễn văn Phố, Thầy Hoàng Phùng Võ cũng đã đến thật sớm, trong phút giây chờ đợi thầy trò còn dịp nhắc nhớ bao kỷ niệm tưởng như không bao giờ dứt. Cũng những khuôn mặt, cũng những tên gọi được lưu vào bộ nhớ như Đặng văn Hùng, Nguyễn Ngọc Ẩn H, Đinh Cẫn Cấp, Lương thị Sao, Võ Đình Bạch Tuyết, Nguyễn thị Ngọc, Huỳnh văn Thôi v.v… Anh chị Lợi Mai đã không đến được trong ngày hội ngộ, hôm nay đến để gặp lại Thầy Cô, bạn bè xưa cũ và chung vui với những tấm lòng Ngô Quyền.

Cô Đặng thị Trí hôm nay sức khoẻ khá hơn, cô rất vui khi được các học trò khen hình cô trong tuyển tập 2011 hồi còn trẻ rất đẹp, và đông đảo học trò ngày xưa vẫn còn ái mộ, quấn quít bên cô để được chụp hình lưu niệm. Cô Thanh Quang của trường Tân Uyên cũng luôn sát cánh với Ngô Quyền cũng đến để tận hưởng những giây phút vui tươi cho đời người trẻ mãi. Cô Bùi thị Ngọc Lan rất ít tham dự họp mặt vào ban đêm, vì thầy Chức phải trụ nông trại tận Fresno, và cô lại ngại lái xe ban đêm nhưng vì tình nghĩa Ngô Quyền cô cũng đến để chia tay cùng bạn đồng nghiệp cũng như những đứa học trò bao năm mới có dịp gặp lại. Thức ăn nước uống đã được các chị Ma Ngọc Huệ, Cao thị Chung, Nguyễn thị Hiền, Nguyễn Tất Ứng chuẩn bị sẵn sàng, lại được Lương thị Sao xông xáo vào bếp chiên xào, chắc có lẽ nhờ chuyến đi Las Vegas chị trẻ hơn đến nỗi một cựu học sinh khóa đàn em lại xưng anh ngọt sớt với khóa đàn chị… muôn vàn tội lỗi.

Tuy rằng hôm nay cũng có những buổi tiệc chia tay riêng, nhưng hơn 70 ghế ngồi mang đến đều không còn chỗ, các chị Hoa, Kim Anh, Ngọc từ nhà chị Mỹ cũng tìm đến trong giờ phút chia tay nầy. Anh Ma Thanh Tâm vẫn ồn ào nhất đến nỗi Đặng văn Hùng, Nguyễn Ngọc Ẩn H cũng muốn ngả nghiêng. Chương trình văn nghệ bắt đầu với những giây phút trang trọng nhất, bàn ghế được sắp xếp, quý thầy cô đều thổn thức khi nghe tất cả mọi người cùng hát lại bản hợp ca “Về Lại Trường Xưa Thân Ái” của anh Trần Kiêu Bạc. Đêm nay bản nhạc không được nghe từ CD, không được nghe từ những giọng hát không kết hợp nhịp nhàng trên xe Bus, nhưng là những tiếng hát thật của các anh các chị được hướng dẫn rất nghiêm khắc bởi Nhạc sĩ Võ Đình, qua tiếng đàn điêu luyện nhà nòi của anh Nguyễn Chánh Nghĩa (trưởng nam của thầy Nguyễn Văn Tỵ, dạy môn nhạc của trường NQ trong nhiều năm). Bản nhạc tưởng chừng như được thăng hoa, được hát hay hơn bao giờ hết, hát từ trái tim, hát với cả tấm lòng hướng về trường xưa của một thời để thương để nhớ. Xin được cám ơn các anh, các chị, xin cám ơn 2 nhạc sĩ đã tập luyện, cũng không quên dành sự tri ân đến tác giả, anh đã viết thay cho bao người bằng trái tim của mình.

Anh chị Mai Ninh Tuất tiếp tục chương trình với một tình khúc của Lê Uyên Phương, Cao thị Chung với màn cổ nhạc “Bạch Thu Hà” thật ngọt ngào, truyền cảm, Ngọc Dung với Suối Tóc của Văn Phụng, Đặng văn Hùng nhờ Ma Thanh Tâm cho uống thuốc liều cũng mạnh dạn trình bày bản nhạc anh chưa từng hát. Anh Võ Đình trình bày bản nhạc “Khép lại từ đây” do chính anh phổ từ thơ Nguyễn thị Minh Thủy với bút hiệu Võ Đình Tuyết trong một CD sẽ ra mắt bạn bè trong những ngày sắp tới. Chị Lương thị Sao bùi ngùi nhớ đến thầy Hồng Duyệt đã dạy nhạc lớp chị năm đệ tứ 64-65, bản nhạc “ Đường chiều” của thầy Hồng Duyệt được chị cất tiếng hát để nhắc nhớ một người thầy của một thời áo trắng, Nguyễn thị Của tiếp tục trình bày một bản nhạc của Bằng Giang phổ từ thơ Thy Lệ Trang.

Màn thay đổi không khí bất ngờ đã được thầy cô và các bạn tán thưởng với anh chàng Bắc kỳ Phạm văn Sinh, phu quân của Ngọc Dung, hôm nay anh Sinh xuống câu vọng cổ “Võ Đông Sơ” thật… độc, nghe anh Sinh ca tưởng đâu Huỳnh Thái , Ngọc Toàn của đoàn Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô Kim Chung từ thuở nào, giọng anh luyến lái xuất thần theo âm hưởng người Bắc rất tuyệt vời, khiến tôi người miền Nam đã từng ca vọng cổ muốn ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Than ôi! Ngô Quyền đã có Hạnh sao lại có thêm Sinh”. Hy vọng rằng trong những lần họp mặt tới, anh Sinh sẽ mang tiếng hát lời ca ấm lòng bao người ái mộ.

Trời đã về khuya, quý thầy cô phải đi về sớm, cám ơn Thầy cô Trần Phiên kính mong thầy cô luôn giữ những hình ảnh đẹp với bao ân tình khi trở về Austin hay Dallas. Bạn bè vẫn chưa muốn rời xa, một vài anh chị từ San Diego vẫn còn đến để tìm lại người bạn cũ là cựu học sinh Ngô Quyền, Phạm thi Hữu Hạnh cùng phu quân, và phu nhân của anh Đinh Cẫn Cấp đã đến muộn để nói lời chia tay trước khi về lại miền tây bắc. Bao bạn bè vẫn lưu luyến giũ nắm chặt bàn tay với bao điều muốn nói:

“Trăm ngàn điều nhắn nhủ

Sao chẳng thốt nên lời

cầm tay nhau cũng đủ

ấm áp nửa phần đời!”

(Nguyễn Thị Minh Thủy)

Nửa phần đời còn lại có chăng tìm lại được bao niềm vui hạnh phúc nghẹn ngào với mái trường trung học Ngô Quyền của một thời để thương để nhớ…

nguyễn hữu hạnh

Sài Gòn Nỗi Nhớ










Chiều nay bên trời mây trắng bay
Sao ta lưu lạc mãi phương này
Thời gian chưa xoá màu kỹ niệm
Lối cũ ngậm ngùi cuối chân mây

Sài Gòn mùa nay lá me bay
Sân trường ai phượng thắm rơi đầy
Áo trắng tan trường qua phố xá
Đã qua rồi lòng còn ngất ngây

Sài Gòn buổi chiều gió hây hây
Thành đô bừng nhịp sống mê say
Tự Do phố lớn người nhộn nhịp
Qua bến Bạch Đằng ngắm trời mây

Buổi tối Sài Gòn sáng lung linh
Đèn hoa giăng mắc cảnh đẹp xinh
Trai gái dập dìu trên hè phố
Đêm thủ đô thắm thiết bao tình

Sài Gòn người phu xe chạy đêm
Kịp mối hàng phiên chợ đầu hôm
Những chuyến xe lam đưa đón khách
Theo giòng đời trôi mãi không tên

Ôi Sài Gòn những chiều mưa tuôn
Như nhớ ai xa vắng phố phường
Kể từ đất nước bừng lữa loạn
Bao nhiêu người chưa về cố hương?

Sài Gòn bây giờ đã thay tên
Như trái tim ưu uất muộn phiền
Xa mãi quê hương từ dạo ấy
Sài Gòn nỗi nhớ chẳng hề quên

TL sưu tầm

Thursday, June 23, 2011

Hương Tình Xứ Bưởi


Em xứ Bưởi Biên Hòa thời thơ mộng,
Ngát hương thơm hoa Bưởi lúc Xuân về.
Anh nhủ thầm: Người tình nhỏ anh mê,
Bờ môi mọng, hương thơm mùi hoa Bưởi.

Người tình nhỏ, dáng thanh tân ngày cưới,
Mái tóc huyền vừa phủ kín bờ vai.
Nụ cười tươi làm thao thức đêm dài,
Như sóc nhỏ đùa vui ngày nắng ấm.

Ôi! Ngây ngất hương tình yêu sâu đậm!
Em Biên Hòa – người xứ Bưởi anh thương.
Vì yêu em, anh phải vượt trùng dương,
Về Bình Trước cùng dong thuyền hóng gió.

Em xứ Bưởi! Tình yêu em sáng tỏ,
Như trăng Rằm tháng Bảy – Lễ Vu Lan.
Vì tình yêu, anh chẳng ngại gian nan,
Nguyện bù đắp những tháng ngày trống vắng.

Tình yêu lớn nên con thuyền chở nặng,
Hai trái tim đang bốc lửa tình yêu.
Vì yêu em, anh gắng sức nuông chìu,
Thề trọn kiếp làm người tình lý tưởng.

Tình xứ Bưởi, hai tâm hồn một hướng,
Chuyển lửa về làm sưởi ấm quê hương.

Vĩnh Liêm

Bố & Con










Nhà tôi “dương thịnh âm suy”, một ông bố với ba thằng con trai mà tôi hay gọi đùa là “bố già, bố trẻ”. Đàn ông lo việc ngoài, đàn bà lo việc trong, người lo việc ngoài ăn xong bày bừa ra cho nên việc trong dù không ít hơn việc ngoài, nhưng vẫn mang tiếng là “ngồi chơi xơi nước”. Ngày được định cư tại Hoa Kỳ, vừa đặt chân đến phi trường Quốc Tế, người bảo trợ có mời thêm vài người quen cùng đón cho xôm tụ, một bà nhìn gia đình mới đến phán một câu xanh rờn: “ Nhà này kém phúc đức nên đẻ toàn con trai”. Cả nhà ngớ ra không hiểu, sau mới biết gía chi có một cô con gái xinh xinh tuổi cập kê, nhà sẽ tấp nập vài chàng trẻ tuổi đang kiếm vợ chở đi làm giấy tờ, khám sức khoẻ hay chợ búa, không vắng như “chùa Bà Đanh”.

Tôi không thích khoe khoang về ông “Bố” của nhà đâu, vì chả lẽ lại “mèo khen mèo dài đuôi”, những điều tầm thường trong cuộc sống gia đình chắc nhà nào cũng giống nhau. Ngày lễ Cha ai cũng nhắc đến công ơn sinh thành dưỡng dục của Bố, nhưng cha tôi mất sớm lúc tôi mới năm, sáu tuổi, nặn óc để tìm lại hình ảnh người đã tạo ra mình tôi vẫn không nhớ được bao nhiêu. Vì vậy, người gần gũi nhất trong cuộc đời tôi là bố của lũ con, nếu ví von như cái nóc nhà che mưa che nắng thì cũng không sai chút nào.

Khi hai đưá con tuổi còn thơ ấu bố đã không có nhà, đây là sự thiệt thòi của tuổi thơ mặc dù có mẹ nuôi dưỡng. Thời gian ấy mọi sự bế tắc đè nặng lên gia đình tôi, trong cũng như ngoài, tôi ôm hết cả hai. Nỗi đoạn trường này là của chung nhiều nhà chứ chẳng phải riêng nhà tôi, lưới giăng lồng lộng chẳng chim nào bay thoát nên tôi đành chấp nhận, vừa chạy chợ kiếm ăn vưà dạy con.

Con vừa lớn là bố về kịp lúc, cả nhà mừng húm dù thêm một miệng ăn. Sau một ngày vất vả, lúc về tôi thường tạt qua chợ chiều tìm mua thực phẩm ế ẩm cuả bạn hàng trong chợ, cuối ngày bán tống bán tháo để về nhà. Bữa cơm nhà nghèo thường chẳng có cao lương mỹ vị, tôi tìm cách chia sao cho bố con cùng vui cùng no. Ít trái cây, vài cái bánh, tôi chia phần:

“Ai nhiều tuổi thì được ăn nhiều, ai ít tuổi ăn ít. Bố hai cái, mẹ và các con mỗi người một cái đồng đều.”

Thằng bé con ngồi đếm xong con toán nhỏ phụng phịu hỏi:

“Sao mẹ lớn mà cũng chỉ có một? Con cũng muốn hai như bố.”

Trẻ con chưa hiểu nổi cảnh nhịn cơm xẻ canh trong thời buổi khó khăn, người lớn chỉ biết cười mà ngậm ngùi trong dạ. Trong trại ngày hai bữa cơm tù, ăn thế nào cũng xong. Trở về với gia đình chưa vui hết niềm xum họp, lắm nhà đã vỡ tan vì cơm áo gạo tiền. Tôi nhìn quanh cuộc sống, nhiều gia đình như vậy nên biết phải tế nhị hơn để cuộc sống tuy thiếu thốn một chút, nhưng chẳng có lúc nào chữ tình chữ nghĩa quý bằng lúc này, chỉ cần gắt gỏng nói một câu thiếu suy nghĩ là hết cả cái tình mình hằng nâng niu gìn giữ.

Thằng bé chào đời sau ngày bố đi xa, mãi đến 7 tuổi mới thấy bố xuất hiện nên cũng hay “ghen” với bố, tự nhiên trong nhà có một “ông” lạ hoắc đi ra đi vào, lại có vẻ được săn sóc, chia phần nhiều hơn thì khó chịu lắm. Nhưng dần dần cu cậu lại thích vì từ nay đã có bố đón đưa khi đến trường hay tan học, đối mấy thằng nhóc to con ăn hiếp thì cu cậu đã vênh mặt lên ra điều “Bố tao đấy!”. Oai thật, bài vở khó đã có bố giảng giải cặn kẽ đến khi nào hiểu mới thôi. Tuy bố chưa kiếm được việc làm để có tiền mua đồ chơi cho con, nhưng mùa trung thu Bố làm cho cái đèn lon sữa bò đục lỗ, trong để cây đèn cầy kéo leng keng trên con hẻm nhỏ, nghe cũng vui tai mà không bị cháy như đèn con gà, con thỏ. Bố về, thêm những món đồ chơi thủ công đẹp khéo tuyệt vời, máy bay, xe tăng, chim chóc xếp bằng giấy, cu cậu tha hồ chơi suốt ngày không chán.

Có bố ở nhà con học hành khá hơn, đứa lớn đã bước vào Trung Học, bỏ đi những môn vớ vẩn nhồi nhét chính trị, bóp méo lịch sử thì mấy môn chính như sinh ngữ, toán bao giờ cũng được kèm cặp đâu vào đấy. Dù sao vốn chữ nghĩa của bố không đến nỗi tệ, tôi yên tâm chạy chợ kiếm ngày hai bữa cơm, việc dạy dỗ học hành cuả con giao toàn quyền cho bố đảm trách. Thỉnh thoảng bố chở con ra bờ sông câu cá, vào công viên chơi đá banh, hôm nào có tiền mua cho con diã bò khô, cây “cà rem”, mấy bố con chơi với nhau , nhìn bên ngoài tưởng an nhàn, thảnh thơi nhưng thực ra cuộc sống đang tắc nghẽn trong vòng rào kẽm gai.

Khổ thay! Từ ngày Bố về từ cái nhà tù nhỏ là bước luôn vào cái nhà tù lớn, màng nhện giăng tứ phía như “thiên la địa võng” nên đi đâu cũng có người “quản ný” chặt chẽ. Bực lắm nhưng biết làm sao, ngay cả cái hộ khẩu cũng không có nên hễ đêm nào nghe tiếng chó suả, tiếng bước chân đi rầm rập trên con hẻm tối thui, thêm một hồi chuông cửa lảnh lót giữa đêm khuya là biết nhà được “hỏi thăm”.

Cửa vừa mở, bốn năm cái bóng ùa vào nhảy thoắt lên cầu thang, chỉa đèn pin sáng loè ra tứ phía, vào tận mấy cái giường còn buông mùng sùm sụp. Đang ngủ ngon bị ánh đèn pin chiả ngay vào mặt, thằng bé con ngái ngủ càu nhàu:

“Thằng nào chơi kỳ dzậy?”

Đèn tắt ngúm, các chú “công an” đi xét nhà kiểm soát người cư trú bất hợp pháp đấy chứ có “thằng” nào đâu, nhưng trong mùng chỉ là thằng con nít đang say ngủ, lục khắp nhà cũng không kiếm ra người ở lậu không khai báo. Sống không hộ khẩu là bất hợp pháp rồi, lại đuổi, đêm nào nghe tiếng chó sủa ồn lên từ ngõ ngoài vào ngõ trong là biết những nhà nào trong xóm được hỏi thăm. Nhà bác Mười “Biệt Kích Dù” bán cá kiểng cá đá, nhà bác Ngôn cựu giám đốc huấn luyện trường Phi Hành ở Nha Trang ngày xưa, toàn những người vừa từ trại cải tạo về. Sáng hôm sau lại vắt giò lên cổ trình quan Quận, thiếu thủ tục “đầu tiên” nên khi ra về ai cũng nhận tờ trát phải đày đi vùng kinh tế mới. Vẫn lì ra không đi, viễn ảnh một vùng đất khô cằn trơ trụi, không trường học chợ búa, lấy chi mà sống, bao người từ những nơi ấy đã liều lĩnh trở về, không nhà, không hộ khẩu ngủ đầy dưới mái hiên hè phố, đã sao đâu, cùi đâu còn sợ lở.

Muốn lì lợm sống còn trong thời buổi đó cần phải có việc làm, kẻo mang tiếng ăn bám xã hội, lười lao động. Bố đi tìm việc làm, chỗ nào cũng lắc đầu quầy quậy vì cái lý lịch tối thui, may quá nhờ người quen dẫn vào làm một chân “cu ly” đẩy xe ba gác cho hợp tác xã Cơ Khí. Sài Gòn nắng nung người, nắng như thiêu như đốt nên Bố đen thủi đen thùi như con cháu nhà Sihanúc, nhìn thoáng là biết Bố thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Dù lương ít nhưng vẫn có lý do “lao động là vinh quang” để bám trụ thành phố. Mặc kệ, sóng đánh tới đâu thuyền neo tới đó, cạn ao thì bèo xuống đất, vẫn hiên ngang ngẩng mặt nhìn đời vì miếng cơm manh áo mình làm ra từ giọt mồ hôi lẫn trong nước mắt.

Chịu đựng mãi rồi cái gì cũng qua, cho đến một ngày thấy thiên hạ ùn ùn đăng ký đi Mỹ theo diện H.O thì cả nhà vừa mừng vừa không tin nổi, cứ như truyện huyền thoại cây đèn thần xứ Ba Tư. Thời bấy giờ người ta gọi là “những người ho hen” vì ở tù về có hằng trăm thứ bệnh, nhưng cũng nhờ cam khổ khi thất thế mà sau này cái gì cũng chịu đựng được. Ánh sáng le lói cuối đường hầm, hình như mãi đến lúc này những người như Bố mới có cơ hội ngẩng mặt lên nhìn ánh mặt trời. Người có tiền rỉ tai nhau ùn ùn ra Hà Nội chạy chọt để được đi trước, ai cũng bảo nhau “sang sau, trâu chậm uống nước đục”, Bố vẫn bình chân như vại vì nghĩ chương trình “Ra Đi Có Trật Tự” thế nào cũng tới lượt, với lại con người còn có số mạng. Ở đó mà chờ tới lượt, không có thủ tục “đầu tiên” thì đừng nói chuyện ra đi. Sốt ruột quá, mẹ lại vét hết trong nhà cho đủ tiền lên danh sách mới chóng được rời khỏi đời sống tối tăm này, thôi đành “qua sông thì phải luỵ đò” vậy.

Ngồi trên máy bay rồi cả nhà mới thở phào, dù rằng trước giờ ly biệt với người thân, những giọt nước mắt ngắn dài thi nhau tràn ướt má. Người ở lại vẫn vất vả với cuộc sống vá víu hằng ngày, người đi mơ ước một tương lai xán lạn cuối chân trời, nhưng vẫn lo lắng chẳng biết sẽ làm gì nơi xứ lạ. Mãi tới khi đặt chân đến phi trường đầu tiên ở San Francisco chờ máy bay chuyển tiếp sang Houston, thấy người lao công quét dọn rất nhàn tản trong nhà vệ sinh mát rượi , Bố cứ thắc thỏm mơ ước sao qua Mỹ kiếm được một cái “job” thơm như vậy.

Mùa Đông đầu tỉên ở nước Mỹ mưa gió lạnh lùng, buồn bã làm sao, nhưng đó là cảnh ngoài trời còn trong nhà thì đang chứa chan niềm hy vọng. Khổ nhiều rồi, chả lẽ không chịu nổi khi xứ sở này cơ hội có bỏ ai bao giờ, nếu không lười biếng mà chấp nhận ngay một công việc tầm thường, đời vẫn còn ngon chán. Ở quê nhà, ai cũng tưởng hễ sang Mỹ là lũ nhỏ nhảy tót vào trường học, chỉ một thời gian là tốt nghiệp bằng này cấp kia. Thực ra con ngu ngơ chưa biết gì, tiếng Anh còn ngọng ngịu nói mãi chưa được một câu, Bố vẫn hiên ngang làm cái “đầu tàu” kéo nguyên một toa tầu nặng nề vượt qua những chặng đường ray dài dằng dặc.

Vừa qua Mỹ người tỵ nạn nào cũng cuống quýt lên đi tìm việc làm, trước hết trả tiền nhà cửa , “bill” bọt hằng tháng, sau là gửi về VN cho người thân để khoe cái may của mình khi ở “xứ sở của mật ong và sữa”, mấy ai đã có lúc hiểu nổi cái khổ của con bò và con ong. Chân ướt chân ráo vừa đến được hơn tuần, một bà cùng quê đã ưu ái quan tâm gọi tới, giọng “bề trên” chắc nịch:

“Nếu cô chú muốn mau ổn định như người ta, phải nghe tôi. Tôi có cái tiệm “Grocery” khu da màu đắt hàng lắm, thấy chú nhanh nhẹn tôi dành cho một chân bán hàng từ 5 giờ chiều đến 11 giờ đêm, (giờ của bóng đêm và tội ác), buổi sáng vẫn đi học được như thường. Cô sạch sẽ khoẻ mạnh, đến nhà giữ cháu nội cho tôi và làm việc nhà, mỗi tuần hai trăm, người khác chỉ trả trăm rưởi.”

Cả nhà ngồi tính toán, lại mừng húm, trước mắt có công ăn việc làm rồi nhà cửa, xe cộ mấy hồi, đời cứ đẹp như mơ. Nhưng khi hai vợ chồng dẫn nhau đến “tham quan” tiệm tạp hoá trong khu nhà thấy mấy ông da màu đang xúm quanh đống củi sưởi ngoài sân , giương mắt chò hỏ nhìn chằm chằm mấy người Á Châu thì hãi quá. Vợ phát rét bảo chồng:

“Thôi anh ạ, khổ thì khổ nhiều rồi. Chính phủ cho mình 8 tháng trợ cấp là để đi học tìm một việc làm hợp khả năng,thế nào họ cũng giới thiệu công việc cho mình, đi làm hãng xưởng vẫn yên tâm hơn. Tại sao không hưởng những ngày học hành thư thả cho người nó khoẻ ra rồi hãy đi làm? Em cũng không thể bỏ chồng bỏ con ở nhà để làm “ô sin”, tiền thì lúc nào chả cần nhưng so với cái “đoạn trường” sau năm 75 chả thấm gì.”

Hai vợ chồng dắt nhau về, còn nghe thêm một bài “gia huấn ca” của người đồng hương là cái thứ mới qua “bày đặt học với hành”. Mãi sau này mới nghe bà ta tự thú rằng đã từng bị kê súng vào màng tang mấy lần mà may quá nó không “ bóp cò”, chứ không cũng đã “tiêu diêu miền cực lạc”. Sau này nghe nhiều người đi trước cũng bảo, chẳng thời gian nào khoẻ bằng lúc mới đến hưởng trợ cấp đi học, khi đi làm rồi mới thấy cái khổ cuả những sáng mùa đông rét thấu xương, những trưa mùa hè nắng cháy, những chiều mệt nhọc khi tan ca mặt trời đi ngủ sớm .

Cuối cùng Bố cũng tìm được việc làm do Y.M.C.A giới thiệu, lương bổng chẳng bao nhiêu nhưng cứ hai tuần lại có cái “check” mang về khoe vợ con. Công việc không nhọc nhằn lắm so với những ngày lao động ở quê nhà, nhưng gò bó thời gian như một cái máy chạy đúng giờ giấc. Sáng mù sương rét buốt đã phải lóc dậy lái xe đi làm, hai cha con chung nhau một xe, chiều về đi xe bus vì con đã lái xe đi làm đi học. Nhờ cái xe tàng mua rẻ được của một ông Mỹ gìa, trong thời gian này hễ có ngày nghỉ là cả nhà kéo nhau đi chơi. Hết câu cá câu cua lại ra biển tắm tát, điếc không sợ súng nên chỗ nào cũng mò tới mà không sợ xe bị “banh ta lông” dọc đường.Nhà ba thằng con trai là ba thế hệ khác nhau, tuổi tác chênh nhau nên mỗi đứa Bố lại phải hướng dẫn một kiểu. Đứa lớn nhất đã trưởng thành ở VN, không sợ con hư hỏng nhưng đường đời con còn non nớt quá, chưa hòa nhập được với xã hội mới vì bất đồng ngôn ngữ cũng có, sự học dở dang từ VN nay bắt lại từ đầu khó nhọc biết mấy, cũng vẫn bố khuyến khích dìu dắt để vào đời. Lo nhất là thằng tuổi “teen” mà cha mẹ nào ở Mỹ cũng phát sốt lên vì những phức tạp tâm lý trong những con người trẻ đang tuổi dở dở ương, nhưng cũng nhờ phước đức ông bà để lại, sóng trước đánh sao sóng sau vỗ đó nên thằng anh lại hướng dẫn thằng em, 5 ngày trong tuần đi học còn cuối tuần đi bưng phở kiếm tiền xài thêm.

Mới đút đầu ra đời cu cậu đã choáng váng với cách “vắt chanh phải vắt cho kiệt, xứng với đồng tiền bát gạo” cuả bà chủ tiệm, suốt hai ngày cuối tuần làm việc cật lực nên không có giờ đàn đúm với bạn bè. Khi đổ rác, lúc bưng tô, vài đứa trẻ tuổi mới từ VN sang đã có lúc bị bà chủ mắng té tát khi đứng nói chuyện với nhau ngoài thùng rác. Một anh có tuổi hơn thở dài khuyên thằng đàn em cùng ngành bưng bê:

“Ráng học em ơi! Sau này anh em mình phải ráng thành tài để khỏi bị người ta mắng mỏ như vậy, nhục lắm!”

Nhờ ý chí vươn lên mà sau này cả hai đều đậu bằng Cao học, một kỹ sư điện toán và một kỹ sư xây dựng. Khi dẫn bạn đến ăn ở tiệm phở ngày xưa, bà chủ đã đon đả chào và khoe với khách hàng: "Tiệm của tôi toàn đào tạo kỹ sư, bác sĩ”. Thật vậy, nếu không nhờ những lời mắng mỏ như té nước của bà thì xã hội đâu có nhân tài.

Thằng bé nhất còn nhỏ quá khi đến Mỹ, đây là sản phẩm “Made in Vietnam” mà Thượng Đế tặng cho cặp vợ chồng gìa, nhưng hoàn toàn hấp thụ văn hoá Mỹ, nếu như bố mẹ không khéo gần sẽ thấy cách con hằng vạn dặm. Cha con bàn với nhau, nhà cần có người cơm nước, em cần có mẹ đưa đón khi đi học, và sau giờ học điều cần nhất là không để thằng lỏi lang thang không ai kèm cặp. Giữ thêm vài đứa trẻ nữa để mẹ ở nhà chỉ lo việc trong mà khỏi lo việc ngoài, khỏi thức khuya dậy sớm dầm sương dãi nắng. Kể cũng là nghề tự do, nghe thì nhàn thật đấy nhưng nghề giữ trẻ cực nhọc chứ không nhàn hạ như người ta nghĩ.

Ba đưá con lớn lên trong sự đùm bọc cuả cha mẹ, nhưng lại gần gũi bố nhiều hơn vì khi bước ra đời, có bao nhiêu điều mà người đàn bà ở nhà không làm sao hiểu hết được. Cách ứng xử trong cuộc đời đầy lừa lọc nơi nào cũng thiên hình vạn trạng, với thời gian các con đã tiến lên nhưng vẫn là con nai tơ đối với cuộc đời muôn mặt. Bố tuy đã lùi bước ra sau nhưng vẫn là điểm tựa tinh thần để con hỏi ý kiến, rút kinh nghiệm khi gặp khó khăn trên đường đời. Bản tính bố cần cù, trầm tĩnh, thận trọng và biết lắng nghe, những điều này cần thiết cho con nhìn rõ những phức tạp trong dòng đời, giải quyết nhiều vấn đề khi con gặp trở ngại, khác với mẹ lúc nào cũng cuống quýt lên như gà mắc đẻ.

Bố còn là chuyên viên kỹ thuật và sửa chữa các thứ hằm bà lằng trong nhà, chiếc lò nướng cũ mẹ vứt vào thùng rác, hôm sau ra “garage” đã thấy nó chễm chệ trở lại nằm cạnh cái bếp điện. Cái xích đu hỏng biến ngay thành cái giàn cho hai nàng tóc tiên và tigôn nở hoa. Cả nhà hay gọi bố là người làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ không phát triển, vì chả chịu mua sắm gì cho bản thân, nhưng lại rộng rãi với vợ con trong nhà , vậy mới kỳ cục!

Bây giờ đầu bố đã bạc, mắt đã mờ chân đã mỏi, bố nói năng không hoạt bát, chẳng biết thơ phú văn chương nhưng biết sửa cái nhà cái cửa, biết đóng cái giàn cho bầu bí, hoa kiểng trèo leo. Những công việc tầm thường nhưng thật là cần thiết, nhiều khi hạnh phúc gia đình chỉ cần có thế, các con cần một người hướng dẫn chỉ bảo trong nhiều tình huống xảy đến trong cuộc đời.Bố là chiếc bóng thầm lặng nhưng là bóng mát chở che để gia đình luôn là một mái ấm. Các con lớn dần lên đã có cuộc đời riêng, bên ông bố gìa lại thêm mấy ông bố trẻ, mấy nàng dâu thì thầm với mẹ chồng:
” Con cũng chỉ mong nhà con được như bố !”

Nguyên Nhung

( Father’s Day 2011)